Gìn giữ cho mai sau một di sản ký ức

Nghề thủ công gần như có mặt ở mọi nơi có dấu chân mở cõi, sinh sống của cộng đồng. Có những nghề tồn tại, phát triển, trở thành di sản hay đặc sản địa phương, xuất hiện trên bản đồ du lịch ẩm thực - văn hóa, góp phần nâng tầm giá trị của nghề, lưu giữ dấu ấn văn hóa của đất và người.

Gìn giữ cho mai sau một di sản ký ức

Tôn vinh một nghề thủ công truyền thống, thể hiện bản sắc cộng đồng địa phương, được trao truyền qua nhiều thế hệ cũng là tôn vinh một vẻ đẹp của văn hóa mưu sinh. 

1. Nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ (Hà Nội) xuất hiện cách đây khoảng trên 400 năm, thời Hậu Lê. Tổ nghề là ông Nguyễn Quý Trị, khi đi sứ Trung Quốc học được nghề dát đập vàng bạc để sơn thếp vàng câu đối, hoành phi, tượng… về nước, chỉ truyền nghề cho dân làng Kiêu Kỵ. Tương truyền, sau khi truyền nghề quỳ vàng bạc cho dân làng, ngày 17 tháng Tám Âm lịch, Ôngng bỏ đi, không rõ tung tích. Từ đó, để tưởng nhớ tới công ơn của ông, dân làng Kiêu Kỵ đã suy tôn Nguyễn Quý Trị là Tổ nghề quỳ vàng bạc và lấy ngày ông ra đi làm ngày cúng giỗ Tổ nghề hàng năm.

Nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ đòi hỏi sự công phu, kiên trì và khéo léo, tinh tế của người thợ. Từ việc xây lò kín, làm mực “lướt” quỳ, đánh quỳ, quỳ vàng, bạc (dát vàng, bạc hay vàng, bạc quỳ). Để ra một sản phẩm quỳ vàng, bạc, người thợ phải trải qua 40-50 công đoạn, nay cải tiến còn 20 công đoạn. Nhiều công đoạn đã dùng máy móc hiện đại hỗ trợ. Tuy nhiên, có những công đoạn không thể thay thế, loại bỏ được mà phải làm thủ công, như công đoạn xây lò, làm mực, cắt dòng, sang vàng, chại quỳ.

Trân trọng nghề truyền thống của cha ông để lại, người làng Kiêu Kỵ luôn ý thức bảo tồn, phát triển nghề. Dân làng Kiêu Kỵ có tục lệ cúng lễ Tổ nghề vào ngày 12 tháng Giêng và tự đóng góp để xây nhà trưng bày sản phẩm truyền thống, khu thực hành nghề. Các gia đình theo nghề quỳ vàng bạc làm lễ xôi gà đem đến cúng Tổ nghề tại điện thờ trong nhà Tràng, sau đó về nhà làm nghi thức “khai tràng” (tức là lễ khai búa đập quỳ). Ngoài ra, nhà thờ tổ nghề được mọi người đóng góp tu bổ, tôn tạo để tri ân bậc khai sinh ra nghề dát vàng, bạc quỳ. Để giữ nghề truyền thống lâu bền, các nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề luôn tích cực trao truyền nghề cho thế hệ trẻ thông qua các buổi học và các lớp dạy nghề.

2. Nghề làm muối Tây Ninh khởi nguồn từ một món gia vị dân dã, sáng tạo từ trong nghèo khó của người dân đã trở thành di sản của một vùng đất. Đó là cả một quá trình phát triển của lịch sử, gắn liền với văn hóa mưu sinh lẫn văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng. Một nơi không có biển, không có diêm dân, nhưng lại có một món gia vị kết hợp những tinh túy của biển, tạo thành đặc trưng riêng mà không nơi nào có được. Trong ký ức của nhiều người già ở Tây Ninh, câu chuyện “muối tôm Tây Ninh” thường bắt đầu bằng hạt muối từ thời kháng chiến. Đó là những hũ muối ớt, muối tôm được các mẹ, các chị chuẩn bị để gửi cho chồng/con ở chiến khu. Muối ớt (muối chay) cũng là món gia vị phổ biến của người dân theo đạo Cao Đài.

Món gia vị của thời khốn khó, dần trở thành món chấm trong các gia đình, rồi phát triển thành nghề mưu sinh cho người dân, dần dần trở thành nghề truyền thống của cộng đồng. Muối Tây Ninh hiện nay gồm: muối ớt, muối ớt tôm, muối tiêu, muối sả chay, muối sả tôm, muối ớt tỏi. Hạt muối từ nguyên sơ đã ủ trong lòng muối những giá trị của lịch sử - văn hóa và đời người.

3. Nghề dệt thủ công truyền thống của người Ba Na (Kon Tum) đã tạo ra những sản phẩm mang nét văn hóa độc đáo riêng. Đó là một chuẩn mực về vẻ đẹp để đánh giá giá trị của người phụ nữ Ba Na, thể hiện sự tinh tế, tài hoa, khéo léo và tính thẩm mỹ của người dệt và là điểm nhấn để các chàng trai Ba Na lựa chọn làm bạn đời... Xét về các hoạt động sản xuất thì tập quán canh tác của các dân tộc tại chỗ ở Kon Tum là gần như giống nhau, nhưng xét về văn hoá mặc của từng dân tộc thì trang phục của người Ba Na đã tạo ra một nét văn hoá khác biệt riêng có mà không thể pha trộn với các dân tộc khác ở Kon Tum, đó là sự sáng tạo trong cách dệt hoa văn.

Nghề dệt thủ công truyền thống tạo ra những sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày như trang phục ngày thường, khi đi làm nương làm rẫy, đi săn bắn, che chắn bảo vệ cơ thể khi thời tiết thay đổi. Trong mỗi bộ trang phục của người Ba Na khi khoác lên người đều mang những ý nghĩa riêng, tạo ra sự phân cấp địa vị xã hội trong cộng đồng, là một chuẩn mực quan trọng để đánh giá vẻ đẹp và giá trị của người phụ nữ. Trang phục để mặc khi tham gia những nghi lễ thường được dệt tỉ mỉ, màu đỏ được sử dụng nhiều hơn và hoa văn cũng sặc sỡ hơn trang phục thường ngày.

4. Nghề thủ công truyền thống tàu hũ ky Mỹ Hòa (Vĩnh Long) tồn tại và phát triển hơn 100 năm, đa số cha truyền con nối. Vào thế kỷ 18 và 19, nhiều người Hoa ở Trung Quốc xuôi xuống phương Nam, mang theo nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đến vùng đất này, trong đó có nghề làm tàu hũ ky. Năm 1912, ông Châu Xường người Quảng Ðông cùng vợ và 2 người con trai là Châu Khoánh (1894-1974), Châu Sầm (1900-1973) sang Việt Nam làm ăn sinh sống và nghề làm tàu hũ ky là nghề gia truyền. Ban đầu họ đặt chân đến là vùng Sa Ðéc nhưng chỉ vài tháng sau lại chuyển về Cái Vồn và chọn Mỹ Hòa để sinh cơ lập nghiệp. Nghề được truyền trong dòng họ nhưng vẫn thuê những hàng xóm đến phụ giúp, dần dần người Việt trong xóm cũng đã theo nghề làm tàu hũ ky, học được kỹ thuật và bí quyết của nghề này, từ đó hình thành nên một làng nghề khá đông đúc. Trải qua gần một thế kỷ tồn tại, làng nghề cũng có lúc thăng trầm, nhưng chưa bao giờ bị mất đi mà ngày càng thịnh vượng.

Tàu hũ ky ở Mỹ Hòa nức tiếng từ xưa, bán khắp các địa phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Từ năm 2010, Hợp tác xã Tàu hũ ky Mỹ Hòa được thành lập, hiện có khoảng 40 xã viên sản xuất tàu hũ ky với quy mô vừa và lớn. Việc nghề làm tàu hũ ky ở Mỹ Hòa được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thúc đẩy bảo tồn và phát triển làng nghề, góp phần phát triển du lịch địa phương./.

Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống mang hồn cốt văn hóa của một cộng đồng, là dấu ấn của vùng đất. Hiện cả nước có 15 nghề thủ công truyền thống được tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể. Được ghi nhận, tôn vinh giá trị khi nghề còn đang phát triển, có tiềm năng kinh tế - du lịch là điều nên làm. Nhưng ngay cả khi nghề có nguy cơ mai một, mất đi thế hệ kế thừa vẫn rất cần được lưu tâm, gìn giữ và bảo tồn, khai thác tiềm năng du lịch. Đó không chỉ là gìn giữ một nghề thủ công truyền thống mà còn là gìn giữ cho mai sau một di sản ký ức.