Cánh tay buông thõng của Ba

Cứ đến mỗi dịp cuối tháng Bảy, khi thành phố đón những cơn mưa rào bất chợt làm dịu đi cái nóng oi ả của mùa hè, tôi lại ngồi lặng im nhìn những dòng người hối hả ngược xuôi trên phố. Tôi nhớ về Ba, nhớ về thế hệ của những người đã hiến dâng một phần xương máu cho hòa bình hôm nay. Hình ảnh người cha với cánh tay trái bị liệt, lặng lẽ vá víu những rạn nứt của gia đình và cuộc đời, mãi là một khoảng lặng thiêng liêng trong tâm hồn tôi.

Cánh tay buông thõng của Ba

Cánh tay trái của Ba tôi lạnh ngắt, nhẹ bẫng và buông thõng dọc theo hông suốt nửa đời người. Khi tôi còn là một đứa trẻ lớn lên ở Sài Gòn những năm đầu sau ngày thống nhất, cho đến nay tóc đã nhuốm bạc tôi không thể nào quên được hình ảnh cánh tay buông thõng của Ba, cánh tay ấy đã chết một phần sau một trận chiến Giồng Riềng, trận chiến của những người lính xuất thân từ những người nông dân chân chất với đội quân viễn chinh nhà nghề của Pháp.

Long Mỹ, Cần Thơ vùng đất nghèo khó, nơi những cánh đồng nứt nẻ mùa hạn và ngập sâu vào mùa nước nổi là nơi Ba tôi được sinh ra. Mười lăm tuổi, cái tuổi đáng lẽ còn mải mê thả diều trên trên bờ ruộng thì ông lại quyết định theo tiếng gọi non sông, gói ghém hành trang đi theo Việt Minh.

"Thời chín năm", đó là cách nói của những người lớn tuổi để nói về chín năm kháng chiến chống Pháp và những trận đánh giáp lá cà không cân sức. Ba tôi đã ở đó - 'thời chín năm", trong trận Giồng Riềng lịch sử, một mảnh đạn đã vĩnh viễn lấy đi sự sống của cánh tay trái của chàng thiếu niên tuổi đôi mươi. Ba ngã xuống, máu nhuộm đỏ, nhưng ông đã sống sót để kể lại câu chuyện với một cánh tay không bao giờ còn có thể nhấc lên.

Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, người thương binh trẻ tập kết ra Bắc. Hai mươi năm ròng rã ở miền Bắc, Ba sống và làm việc tại khu điều dưỡng thương binh, tham gia sản xuất bằng cánh tay phải còn lại. Cánh tay đó cầm cuốc. Cánh tay đó gieo mạ. Và cũng chính cánh tay đó đã vun vén cho cuộc sống mới ở miền Bắc. Ở đây, Ba đã gặp Má - cô gái miền Nam tập kết. Hai người lấy nhau, sinh ra anh tôi trong tiếng còi báo động máy bay gầm rú. Hai mươi năm đằng đẵng ấy, lòng Ba chưa bao giờ nguôi nhớ về những những người thân miền Nam.

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam giải phóng hoàn toàn, đất nước lặng tiếng súng. Ba dắt díu gia đình trở về Sài Gòn. Chuyến tàu thống nhất đưa gia đình về lại mảnh đất phương Nam ruột thịt. Nhưng ngày trở về không chỉ có cờ hoa rực rỡ, nó còn là sự đối diện với những vết thương âm ỉ của một gia đình bị chia cắt bởi chiến tranh. Giống như bao gia đình miền Nam khác thời bấy giờ, dòng họ nhà tôi có người ở hai đầu chiến tuyến. Có người chú, người dượng đã mặc áo lính của chế độ cũ.

Ngày đầu tiên sum họp, trong căn nhà nhỏ ở hẻm sâu Sài Gòn, Ba đã dùng bàn tay phải còn khỏe mạnh ôm lấy những người anh, người em của mình sau bao năm xa cách. Không có sự phán xét hay phân định thắng thua, không còn ranh giới của những màu áo lính, chỉ còn những giọt nước mắt nghẹn ngào của anh em sau hai mươi năm xa cách. Đối với Ba, ngày chiến tranh kết thúc không chỉ là ngày khẳng định chiến thắng, mà còn là ngày của sự hòa hợp, ngày mà gia đình được hàn gắn lại từ những mảnh vỡ.

Mười năm sau ngày trở về, cuộc sống bao cấp nghèo khó cùng những di chứng vết thương cũ hành hạ đã cướp Ba đi vào một ngày cuối xuân 1986. Ba ra đi thanh thản, không một lời than vãn về những thiệt thòi mà mình phải gánh chịu. Chiến tranh đã lùi xa, những tòa nhà cao tầng mọc lên thay thế cho những vết tích đổ nát cũ, nhưng những vết sẹo vô hình trên thân thể những người cha như Ba tôi vẫn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về cái giá của hai chữ hòa bình.